Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng

10/09/2020 14:34

(PL&XD) –  Di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng. Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối việc chuyển nhượng đó. Tuy nhiên, sau đó đã xảy ra tranh chấp thừa kế tài sản. Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng.
cong nhan hop dong chuyen nhuong quyen su dung dat la di san thua ke do mot trong cac dong thua ke chuyen nhuong
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Vụ án tranh chấp thừa kế tài sản lần này giữa những đồng thừa kế được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua và phát triển thành Án lệ số 16/2017/AL.

Được biết, ông P.V.N và bà P.T.G có 6 người con là: P.T.N1, P.T.N2, P.T.H2, P.V.T, P.T.P, P.T.H1. Tài sản chung của ông N và bà G là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc (nguồn gốc đất do cha ông N để lại).

Năm 1984 ông P.V.N chết (trước khi chết không để lại di chúc), vợ là bà G và anh P.V.T quản lý và sử dụng nhà đất trên. Năm 1991, bà G chuyển nhượng cho ông P.V.K một phần diện tích đất trên với diện tích đất là 131m2, còn lại diện tích 267m2, năm 1999 bà Phùng Thị G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà G muốn cho con gái là chị P.T.H1 một phần diện tích đất của bà để làm nhà ở nhưng anh P.V.T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không tách đất cho chị H1 được. Vì vậy, chị P.T.H1 khởi kiện ra Tòa án buộc anh T trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà G. Tòa án đã xử buộc anh Phùng Văn T phải trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng anh T không trả.

Vì vậy tháng 3/2010, bà P.T.G đã lập di chúc với nội dung: Để lại cho chị H1 diện tích đất 90m2 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích đất có các chiều cạnh: Phía Đông giáp diện tích đất của bà G; phía Tây giáp nhà ông N; phía Nam giáp đường T; phía Bắc giáp nhà anh C. Khi lập di chúc bà G hoàn toàn minh mẫn khỏe mạnh, có người làm chứng và di chúc đó đã được UBND phường M chứng thực. Toàn bộ diện tích 398m2 là của bà G vì khi ông P.V.N chết thì bà được toàn quyền sử dụng.

Tháng 12/2010, bà G mất, toàn bộ khối tài sản trên vợ chồng anh T vẫn quản lý sử dụng. Nay các nguyên đơn là (chị P.T.H1, chị P.T.N1, chị P.T.P, chị P.T.H2) yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc, để lại cho chị H1 là 90m2, phần còn lại là 177m2 đề nghị chia theo pháp luật, kỷ phần thừa kế của chị N1, chị P, chị H2 nhường cho chị H1 sử dụng. Ngoài ra, tài sản cây cối trên đất và phần diện tích đất nông nghiệp của bà G thì các nguyên đơn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi xử sơ thẩm và phúc thẩm, tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng.

Tòa án nhận định một số điểm quan trọng sau: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định diện tích 398m2 đất tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố V.Y, Vĩnh Phúc có nguồn gốc là tài sản chung vợ chồng ông P.V.N và bà P.T.G.

Việc bà G chuyển nhượng đất cho ông K, các con đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì. Sau đó ông K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà G đã đồng ý để bà G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông K. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà G đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông K) để chia là không đúng.

Ngoài ra, dù di chúc bà G lập và chứng thực không cùng ngày, nhưng qua ý kiến của UBND phường và lời khai của những người làm chứng trong di chúc thì có căn cứ để xác định lập di chúc khi bà G còn minh mẫn và nội dung di chúc theo ý nguyện của nên Tòa án hai cấp chấp nhận di chúc là có lý, có tình.

Tuy nhiên, diện tích 267m2 đất đứng tên bà G nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, bà G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung. Do đó, phần di sản của bà G để lại là 1/2 khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho chị H1 (con gái) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại (trong đó chị N2 nhường kỷ phần thừa kế cho anh T; chị H2, chị N1 và chị P nhường kỷ phần cho chị H1). Đối với 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của ông N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế. Anh T là một trong các thừa kế không đồng ý chia, theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng.

Về phía Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 267m2 đất là di sản của bà để chia theo di chúc cho chị H1 90m2 đất và phần đất còn lại 177,4m2 chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng.

Như vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, Khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT của TAND tỉnh Vĩnh Phúc và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-ST của TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn chị P.T.H1, chị P.T.N1, chị P.T.H2, chị P.T.P với bị đơn là anh P.V.T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm chị P.T.N2, chị P.T.H3. Đồng thời, giao hồ sơ cho TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Ánh Dương

Theo Án lệ số 16/2017/AL đăng ngày 15/2/2018 trên trên Trang tin điện tử về án lệ - Tòa án Nhân dân tối cao (anle.toaan.gov.vn)

Tin liên quan

Xem thêm

cong nhan dieu kien cua hop dong tang cho quyen su dung dat ma dieu kien do khong duoc ghi trong hop dong

Công nhận điều kiện của hợp đồng tặng, cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng

(PL&XD) – Trong thực tế cuộc sống, xảy ra không ít việc cha mẹ tặng, cho con quyền sử dụng đất không ghi điều kiện trong hợp đồng dẫn đến những tranh chấp sau này. Trong trường hợp đó, Tòa án phải công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đó là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Vụ việc lần này xảy ra tại tỉnh Điện Biên, từ Quyết định Giám đốc thẩm số 02/2011 phát triển thành án lệ số 14/2017/AL.
cong nhan thoa thuan mieng trong viec chuyen doi su dung dat nong nghiep

Công nhận thỏa thuận miệng trong việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp

(PL&XD) – Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận miệng trên cơ sở tự nguyện để chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, nhưng sau khi đổi đất và kê khai, đăng ký thì lại có sự tranh chấp nhất định. Vụ án lần này là tranh chấp hợp đồng đổi đất tại Hà Nội theo Quyết định giám đốc thẩm số 394/2012/DS-GĐT của TAND tối cao, phát triển thành Án lệ số 15/2017/AL.
truong hop ca nhan duoc nha nuoc giao dat nhung khong su dung ma de nguoi khac quan ly su dung on dinh lau dai

Trường hợp cá nhân được Nhà nước giao đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài

(PL&XD) – Mặc dù được cấp đất, nhưng lại không sử dụng và để cho người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài dẫn đến việc tranh chấp tài sản nhà, đất sau này là tình trạng phổ biến, diễn ra ở nhiều địa phương. Vụ án lần này xảy ra ở Hưng Yên và đã được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua ngày 5/2/2020 với Quyết định Giám đốc thẩm số 34/2018/DS-GĐT, phát triển thành Án lệ số 33/2020/AL.
quy dinh ve quyen lap di chuc dinh doat gia tri boi thuong ve dat trong truong hop dat bi thu hoi

Quy định về quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hợp đất bị thu hồi

(PL&XD) – Liên quan đến việc tranh chấp, khiếu kiện về đất trong quá trình lập, thừa kế di chúc tài sản. Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội đã có Quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27/9/2018 về vụ án dân sự “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” tại tỉnh Vĩnh Phúc đã được phát triển thành Án lệ số 34/2020/AL.
...

Tin bài cuối cùng

Xem phiên bản di động